Quan Huấn đạo, Giáo thụ Phủ Tuy An, Hàn lâm viện Tu soạn Lê Ngọc Nhuận

Ông sinh năm 1780 (Canh Tý); Mất năm 1851 (Tân Hợi), thọ 72 tuổi. Người Thôn Luân, xã Di Luân, huyện Thanh Chương, phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An). Sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, thân phụ là Tổng trưởng Lê Ngọc Chính. Thủa còn nhỏ ông vốn thông minh, học giỏi. Ông lãnh Hương tuyển (đỗ Tú Tài) vào đời vua Gia Long năm thứ 6, khoa Đinh Mão (1807). Năm Minh Mạng năm thứ 11 (1830), được bổ nhiệm làm Giáo chức. Năm 1832 đời vua Minh Mệnh, ông được bổ nhiệm làm Huấn đạo huyện Hạ Hòa (Phú Thọ). Đến năm 1841, ông lại được vua Thiệu Trị ban Sắc phong bổ nhiệm làm Huấn đạo huyện Hạ Hòa.  Năm 1842, ông được vua Thiệu Trị ban Sắc phong thăng làm Giáo thụ phủ Tuy An. Với những cống hiến cho sự nghiệp giáo dục vào ngày 19/9/1848 đời vua Tự Đức, ông được vua Tự Đức ban Sắc phong thăng lên Hàn lâm viện tu soạn. Ngày 20/10/1849, đời vua Tự Đức, ông được nghỉ hưu về quê an dưỡng. Làm quan dưới triều Nguyễn, trải qua 03 đời vua: Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, Ông đã đem hết tài năng của mình để giảng dạy học trò, phát triển nền học vấn, đến lúc nghỉ hưu vẫn tiếp tục mở lớp học tại quê nhà, đào tạo nhân tài, góp phần đáng kể vào nền học vấn của nước nhà. Nhân lễ mừng thọ ông lên 70 tuổi, các học trò của ông đã làm Văn Chúc thọ ca ngợi về Thầy của mình và hiện vẫn còn lưu giữ tại Nhà thờ họ Lê Ngọc đã gần 170 năm, với toàn văn nội dung bản dịch như sau:

VĂN CHÚC THỌ

Trong thiên hạ có ba điều tôn quý, trong đó tước là một, thọ là hai, triều đình sở dĩ ban phước cho đấng quân tử, trời xanh sở dĩ ban phước cho bậc hiền nhân, ắt từ nơi đức hạnh vậy.

Mây lành tụ cây mận trước cửa, cội tùng xanh sắc biếc ở khe, cũng không hân hạnh chăng!

Kính nghĩ :

Tiên sinh đời đời thế phiệt, thi lễ gia phong.

Chơi bút mực nơi rừng thư, Thanh Bình gươm báu, từ chương khắc chốn thí viện, bảng vàng đề danh.

Gia Long khoa Đinh Mão, lãnh Hương tuyển, Minh Mạng năm thứ mười một, điều Giáo chức.

Từ đây cánh buồm căng gió, đàn khảy khúc xuân.

Vui hòa tiếng vang thanh nhã, sở học tài hoa vang lừng.

Gió xuân thổi hương đào xa tít, hoa tuyết bay khắp chốn mừng reo.

Thanh cần đường quan, Cư Hành ngọc đẹp nơi chí nguyện, uy nghiêm tăng vút, an tĩnh là bí quyết trường sinh.

Ngưỡng trông năm Tự Đức thứ hai, Tiên sinh tuổi hạc bảy mươi, tiếng hay vang dội, nhà vua đặc gia hàm Hàn Lâm viện Tu soạn, Trí sĩ.

Tài hoa cao quý, danh giá bội tăng.

Vui thiên nhiên mà vinh quê quán.

Sóng cuộn cặp bờ, bên đường nghênh kính.

Tùng cúc tươi tốt, lấp cửa quan đồ.

Ánh dương gọi ta, rượu xuân thêm thọ.

Trải chiếu ngọc ngồi ngắm hoa, tình cảm gia đình thắm thiết.

Dưới gốc hải đường, hương thơm chén ngọc phảng phất,

Trồng quế trước cửa, rượu xuân ca hát vui cười.

Thung dung gót trượng, phượng hoàng theo sau.

Xán lạn tấn thân, rảnh rang nhàn hạ.

Dòng thụy khí lưu thông, nối phước lành điềm tốt.

Chắc rằng như vậy da!

Bọn học trò chúng con, luôn nhớ nghĩ sư môn.

Tiếc rằng gió mây sớm rẽ, (* * * * * * *)

Ngày nay tên tuổi đều ngời, ngẩng trông dáng dấp ân sư.

Vậy kính cẩn chúc tụng rằng :

Vui thay quân tử !

Vinh quang nước nhà

Vì có phước khánh

Cho nên đức dày

Trời ban phước lớn

Khiến thọ vô cương

+ + + +

+ + + +

Núi cao sông rộng

Không thẹn thánh hiền.

Ngày 22 tháng giêng năm Tự Đức thứ 3, tức năm 1850 Canh Tuất.

Các học trò bên trên là Huấn đạo, Tri châu, Tú tài, Cống sĩ, Sinh nhân cùng kính chúc.

Người dịch: Trương Thiên Lộc, Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh

Lê Ngọc Thịnh