Theo dòng chảy lịch sử, từ bao đời nay văn hóa cộng đồng và văn hóa dòng họ là hai khái niệm luôn song hành cùng nhau, bổ trợ và cùng tạo nên sợi dây gắn kết tạo nên sức sống trường tồn cho văn hóa dân tộc. Trải qua thời gian, khái niệm đó luôn được bồi đắp, nuôi dưỡng để rồi theo năm tháng mạch nguồn ấy càng ngày càng dày thêm. Đền Quế Anh phu nhân và Nhà thờ họ Hoàng Đăng xã Kim Liên là minh chứng cho sợi dây tâm linh bền chặt ấy.
Trong truyền thống tín ngưỡng của người Việt, việc thờ Bà Tổ Cô là một thực hành rất phổ biến trong các gia đình và dòng họ. Ở nhiều địa phương, hầu như gia đình nào cũng có bát hương thờ Bà Tổ Cô tại bàn thờ gia tiên. Một số dòng họ lớn còn xây miếu nhỏ hoặc am thờ riêng, thể hiện sự trân trọng đối với người phụ nữ yểu mệnh trong họ tộc, đồng thời lưu giữ ký ức về các thành viên đã khuất. Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục từng ghi nhận: “Phàm trong họ có cô gái thác sớm mà chưa lập thất, người trong nhà đều kính lập bàn thờ riêng gọi là ‘bà cô tổ’. Hằng năm lễ tiết, đều có dâng hương hoa, khấn nguyện sự lành cho nữ nhi trong họ”. Theo quan niệm dân gian, Bà Tổ Cô không chỉ đơn thuần là linh hồn của những người nữ giới mất khi chưa lập gia đình mà họ còn mang những phẩm chất đặc biệt: là những người thông minh, chính trực, giàu đức hạnh; hoặc mất vào giờ thiêng, nên hiển ứng thành những vị thần linh giúp đỡ con cháu, nhất là che chở cho nữ nhi cô quả, phù hộ trẻ nhỏ khó nuôi, báo mộng cho con cháu trước những biến cố trong cuộc sống.
Tuy nhiên, không phải Bà Tổ Cô dòng họ nào cũng được phong thần, cũng như không phải trường hợp nào cũng phát triển thành tín ngưỡng thờ tự ở cấp cộng đồng. Chỉ những nhân vật được cộng đồng thừa nhận là linh ứng, có ảnh hưởng rộng và gắn bó với đời sống chung của làng xã mới được dựng đền thờ và được triều đình phong kiến sắc phong. Ở Nghệ An có một số Bà Tổ Cô các dòng họ mà sự hiển linh vượt ra khỏi khuôn khổ gia đình, dòng họ, được cộng đồng thừa nhận, lập đền thờ phụng như bà Quế Hoa công chúa họ Lê thờ ở đền Bà Cô xã Hưng Hòa (nay là xã Trường Vinh), bà tổ cô Ngọc Dung Giao Xa Quế Hoa công chúa họ Nguyễn Hữu xã An Hòa (nay là xã Quỳnh Phú), bà tổ cô Quế Hoa công chúa tôn thần dòng họ Lê xã Nghi Liên (nay là phường Vinh Hưng), lý lịch của họ mang màu sắc huyền bí, ly kỳ và linh dị. Đây chính là sự chuyển hóa văn hóa tâm linh từ tín ngưỡng dòng họ sang tín ngưỡng cộng đồng làng xã, từ bà tổ cô thành nữ thần và về sau các vị nữ thần này được đưa vào trong điện thờ Đạo Mẫu Việt Nam, góp phần hình thành hệ thống thánh mẫu, thánh cô trong văn hóa tâm linh người Việt.

Quế Anh phu nhân[1] của dòng họ Hoàng Đăng tại thôn Xuân Hòa cũng là một trường hợp tiêu biểu phản ánh quá trình hình thành và phát triển của loại hình tín ngưỡng này. Gia phả, bài vị của dòng họ Hoàng Đăng ghi nhận bà thuộc thế hệ thứ hai của dòng họ, yểu mệnh[2] mất khi còn trẻ. Sau khi bà qua đời, nhiều sự kiện truyền lại trong cộng đồng cho rằng bà “hiển linh”, phù hộ cho dân làng trong những thời điểm xuất hiện dịch bệnh, đau ốm, hoặc các biến cố liên quan đến đời sống thường nhật. Những ghi nhận mang tính truyền khẩu đó được duy trì trong nhiều thế hệ và có sức lan tỏa rộng trong cộng đồng dân cư Xuân Hòa, khiến bà từ vị trí một nhân vật được thờ trong nội tộc trở thành đối tượng thờ chung của làng, xã.
Trên cơ sở sự tôn kính đó, dòng họ Hoàng Đăng và nhân dân địa phương xây dựng đền thờ Quế Anh phu nhân. Các nghi lễ phụng thờ tại đền được duy trì ổn định và có hệ thống. Sự hiện diện của đền cùng với quá trình thờ tự qua nhiều thế hệ đã củng cố vị trí của bà trong đời sống tín ngưỡng địa phương. Trải qua thời gian, với sự linh ứng đó bà đã được triều đình ban sắc phong, phong đến Thượng đẳng thần. Hiện tại di tích còn lưu giữ 3 sắc phong thần cho bà, cụ thể như sau:
- Sắc phong thứ nhất vào năm Thành Thái thứ 6 (1894), bà được phong mỹ tự “Nhàn Uyển Dực bảo Trung hưng” giao cho giáp Trung, thôn Xuân Hòa, xã Tràng Cát, huyện Nam Đàn phụng thờ thần.
- Sắc phong thứ hai vào năm Duy Tân thứ 3 (1909) với mỹ tự “Nhàn Uyển Dực bảo Trung hưng Quế Anh phu nhân”.
- Đặc biệt, vào năm Khải Định thứ 9 (1924), bà được ban mỹ tự “Trinh Uyển” gia tặng “Trang huy” và phong tặng cấp bậc cao nhất trong hệ thống thần linh là “Thượng đẳng thần”[3]. Nội dung sắc phong như sau:
Sắc cho giáp Trung, thôn Xuân Hòa, xã Tràng Cát, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An theo lệ cũ thờ phụng tôn thần vốn được tặng là Trinh Uyển Dực bảo Trung hưng Quế Anh phu nhân. Thần giúp đỡ đất nước, che chở nhân dân, linh ứng từ lâu, đã được ban cấp sắc phong chuẩn cho thờ phụng. Nay nhân đại lễ mừng thọ Trẫm tuổi 40, đã ban bảo chiếu mở rộng ân trạch, long trọng cử hành lễ tăng phẩm trật, gia tặng Trang huy Thượng đẳng thần. Cho phép dân trong xã được phụng thờ như cũ để ghi nhớ ngày lễ mừng của đất nước và tỏ rõ phép tắc thờ tự. Kính thay!
Ngày 25 tháng 9 năm Khải Định thứ 9 (1924).
Bên cạnh đó, tại đền Quế Anh phu nhân còn lưu giữ 03 cờ thần triều Nguyễn thêu chữ Hán là những cổ vật tồn tại lâu đời khẳng định sự chính danh, chính thống của thần Quế Anh đang được Nhân dân và con cháu phụng thờ tại ngôi đền này.
- Cờ thứ nhất có nội dung: “Công chúa” (Giáp Tý niên (1924)).
- Cờ thứ hai có nội dung: “Thượng đẳng” (Giáp Tý niên (1924)).
- Cờ thứ ba có nội dung: “Công chúa” (Bảo Đại Đinh Mão niên”(1927)).
Sở dĩ Bà được Nhân dân gọi với mỹ tự “Phu nhân” hay “Công chúa” vì đây là cách gọi tôn kính, ngưỡng mộ của nhân dân đối với một người phụ nữ đã được tôn xưng là bậc thần. Và dù cách gọi như thế nào bà vẫn lung linh, huyền diệu trong tâm thức của người dân nơi đây từ bao đời nay.
Cùng với đó, nhà thờ họ Hoàng Đăng là nơi phụng thờ tổ tiên, lưu giữ các giá trị văn hóa dòng họ, góp phần củng cố mối quan hệ huyết thống, gắn kết cộng đồng, phản ảnh rõ nét sự kết hợp giữa văn hóa dòng họ và văn hóa cộng đồng, tạo nên giá trị tiêu biểu, đặc trưng của di tích.
[1] Phu nhân là một tước hiệu dùng để chỉ phụ nữ có địa vị cao quý trong xã hội phong kiến, thường là vợ của quan lại hoặc người có chức sắc. Tuy nhiên danh từ này cũng có thể được dùng với ý nghĩa tôn xưng nói chung, không nhất thiết là đã lập gia đình, việc dùng từ “phu nhân” có thể chỉ đơn giản là thể hiện sự kính trọng địa vị hoặc để tôn vinh người phụ nữ.
[3] Theo quan niệm dân gian, tùy vào nhiều yếu tố khác nhau, thần linh được phân chia thành 3 thứ bậc, từ thấp đến cao, gồm: Hạ đẳng thần, Trung đẳng thần và Thượng đẳng thần.