Tứ Vị Thánh nương và những sắc phong cổ tại Đền Quy Lĩnh

19:51 21/12/2025
Toàn cảnh di tích nhìn từ trên cao

Đền Quy Lĩnh thuộc địa phận xã Quỳnh Anh, được xây dựng từ thời Trần để thờ Mộc thần và Tứ vị Thánh nương. Sau này Nhân dân phối thờ thêm thần Sát Hải Đại Vương Hoàng Tá Thốn.

Đền Quy Lĩnh

Theo các tài liệu có thể thấy Đền Quy Lĩnh (xã Quỳnh Anh) và Đền Cờn (phường Quỳnh Mai) có thể được xác định là những điểm phát tích thờ Tứ vị Thánh nương về sau nơi đây phát triển thành một trung tâm tín ngưỡng thờ Mẫu lớn của xứ Nghệ. Hiện tượng thờ Tứ vị Thánh nương không chỉ dừng lại ở nơi phát tích ban đầu mà còn được khuếch tán, lan tỏa thờ phụng ở nhiều khu vực thuộc vùng ven sông, ven biển. Không chỉ miền Trung có nhiều Đền thờ Tứ vị Thánh nương mà miền Bắc và miền Nam cũng có nhiều nơi thờ phụng các vị thần này. Theo cuốn “Đền Cờn, tục thờ Tứ vị Thánh nương và quần thể di tích văn hóa ở xã Quỳnh Phương” [1] dẫn từ Bách thần ký thì cả nước có 1.057 Đền thờ Tứ vị Thánh nương. Còn theo thần tích thần Tứ vị ở Hàm Thủy và tại Ninh Mật (Ninh Bình) thì số Đền thờ Tứ vị Thánh nương trong cả nước là 1.964 cơ sở. Riêng ở Nghệ An có trên 30 ngôi Đền thờ Tứ vị Thánh nương [2] . Tuy nhiên, ở các địa phương khác nhau, các nhóm dân cư khác nhau, có thể có sự khác nhau về tên gọi, sự tích của thần cũng có nhiều dị bản khác nhau.

Theo thần tích, Đền Quy Lĩnh (xã Quỳnh Anh) và Đền Cờn (phường Quỳnh Mai) cũng là hai di tích có thờ Mộc thần gắn liền với sự hóa thân của Tứ vị Thánh nương vào khúc gỗ trầm hương. Những câu chuyện ly kỳ xoay quanh sự tích này đã góp phần củng cố niềm tin tâm linh và ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tín ngưỡng của cộng đồng cư dân địa phương. Bản thần tích năm 1840 [3] có đoạn chép: “Ở biển Cai Ngại Sơn (tục gọi là Hòn Ói, cũng gọi là núi Quy Lĩnh) có một khúc gỗ trầm hương trôi lên trôi xuống rồi đậu lại ở bên núi, ở đó khí thiêng bốc lên ngùn ngụt, có ngư dân thấy làm lạ bèn vớt lên bờ và lập miếu thờ. Mỗi lần cầu đảo đánh cá đều linh ứng” .

Đền Quy Lĩnh là một “thánh tích” quan trọng trong tín ngưỡng thờ Tứ Vị Thánh Nương ở Nghệ An. Các triều đại phong kiến đã nhiều lần ban sắc phong thần cho Tứ Vị Thánh Nương và giao cho làng Phú Lương phụng sự. Hiện nay, Đền Quy Lĩnh đang lưu giữ 07 sắc phong gốc và 25 sắc sao cho Tứ vị Thánh nương. Trong đó, sắc phong sớm nhất gia phong cho Tứ vị Thánh nương là “ Thần chiêu Linh ứng” vào ngày 5 tháng 4 năm Mậu Ngọ niên hiệu Cảnh Thống thứ nhất (1498) cách ngày nay hơn 600 năm , sắc phong muộn nhất vào ngày 25 tháng 7  niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924).

Sau đây là nội dung của các đạo sắc phong gốc và các bản sắc sao lưu tại di tích:

Hệ thống Sắc gốc|:

SẮC THỨ 1:

Phiên âm:

Sắc Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Thần chiêu Linh ứng, Cảm huệ Hoằng tế, Minh nghĩa Hiển Đức, Trang thanh Tấn đạt, Cảm đức Hi tải, Mục trưng Trinh thuận, Đoan thục Trang ý, Nhu gia Quang túc, Bác đức Thuần nhân, An bảo Thuần mẫn, Cương đoán Cẩn tiết, Trinh thục Từ hòa, Phương dung Mỹ đôn, An bảo Phù tộ, Hựu quốc Trợ uy, Tán trị Hiệp an, Hộ quốc Khang dân, Trợ thắng Tề trị, Trinh tĩnh Anh linh, Dực vận Phù quốc, Thận hành Thuần mỹ, Trinh khiết Đoan chính, Trang thuận Mậu công, Dũng trí Hiển ứng, Quy Lĩnh Linh Từ, Tứ Vị Thánh Nương Đại Vương. Đạo thừa càn đại, chất bẩm khôn duy. Bảo quốc hộ dân, nhất thế ngưỡng âm phù chi lực; tảo tai trừ hoạn, ức niên tư bí chi công. Anh thanh ích giả, giản thư lễ trật, tải khể phấn điển. Vi Tự vương tiến phong vương vị, lâm cư chính phủ, tôn phù tông xã, củng cố hồng đồ, lễ hữu đăng trật, ứng gia phong mỹ tự tam tự. Khả gia phongĐại Càn Quốc Gia Nam Hải Thần chiêu Linh ứng, Cảm huệ Hoằng tế, Minh nghĩa Hiển Đức, Trang thanh Tấn đạt, Cảm đức Hi tải, Mục trưng Trinh thuận, Đoan thục Trang ý, Nhu gia Quang túc, Bác đức Thuần nhân, An bảo Thuần mẫn, Cương đoán Cẩn tiết, Trinh thục Từ hòa, Phương dung Mỹ đôn, An bảo Phù tộ, Hựu quốc Trợ uy, Tán trị Hiệp an, Hộ quốc Khang dân, Trợ thắng Tề trị, Trinh tĩnh Anh linh, Dực vận Phù quốc, Thận hành Thuần mỹ, Trinh khiết Đoan chính, Trang thuận Mậu công, Dũng trí Hiển ứng, Linh biến Bác trạchDiễn khánh, Quy Lĩnh Linh Từ, Tứ Vị Thánh Nương Đại Vương.

Cố sắc!

Cảnh Hưng nhị thập bát niên bát nguyệt sơ bát nhật.

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Dịch nghĩa:

Sắc cho Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Thần chiêu Linh ứng, Cảm huệ Hoằng tế, Minh nghĩa Hiển Đức, Trang thanh Tấn đạt, Cảm đức Hi tải, Mục trưng Trinh thuận, Đoan thục Trang ý, Nhu gia Quang túc, Bác đức Thuần nhân, An bảo Thuần mẫn, Cương đoán Cẩn tiết, Trinh thục Từ hòa, Phương dung Mỹ đôn, An bảo Phù tộ, Hựu quốc Trợ uy, Tán trị Hiệp an, Hộ quốc Khang dân, Trợ thắng Tề trị, Trinh tĩnh Anh linh, Dực vận Phù quốc, Thận hành Thuần mỹ, Trinh khiết Đoan chính, Trang thuận Mậu công, Dũng trí Hiển ứng, Quy Lĩnh Linh Từ, Tứ Vị Thánh Nương Đại Vương. Đạo thừa trời cao, chất thiêng đất dày. Giúp nước che dân, muôn đời ngưỡng trông ngầm giúp đỡ; ngăn tai trừ nạn, vạn thưở công lao rực rỡ. Linh thiêng tỏ rõ, đáng ghi phẩm trật, trải nêu rạng điển. Vì Tự vương tiến phong vương vị, ngự ngôi chính phủ, tôn phù xã tắc, củng cố cơ đồ, lễ có nâng bậc, cho nên được phong thêm ba chữ mỹ tự. Đáng phong thêm là Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Thần chiêu Linh ứng, Cảm huệ Hoằng tế, Minh nghĩa Hiển Đức, Trang thanh Tấn đạt, Cảm đức Hi tải, Mục trưng Trinh thuận, Đoan thục Trang ý, Nhu gia Quang túc, Bác đức Thuần nhân, An bảo Thuần mẫn, Cương đoán Cẩn tiết, Trinh thục Từ hòa, Phương dung Mỹ đôn, An bảo Phù tộ, Hựu quốc Trợ uy, Tán trị Hiệp an, Hộ quốc Khang dân, Trợ thắng Tề trị, Trinh tĩnh Anh linh, Dực vận Phù quốc, Thận hành Thuần mỹ, Trinh khiết Đoan chính, Trang thuận Mậu công, Dũng trí Hiển ứng, Linh biến Bác trạch Diễn khánh, Quy Lĩnh Linh Từ, Tứ Vị Thánh Nương Đại Vương.

Cho nên ban sắc!

Ngày mồng 8 tháng 8 năm Cảnh Hưng thứ 28 (1767).

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

SẮC THỨ 2:

Phiên âm:

Sắc Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Tôn thần, hộ quốc tý dân, nẫm trứ công đức, kinh hữu lịch triều phong tặng.Phụng ngã Thế tổ Cao Hoàng đế thống nhất hải vũ, khánh bị thần nhân.Tứ kim phi ưng cảnh mệnh, quang thiệu hồng đồ, miến niệm thần hưu, hạp long ân điển, khả gia tặng Hàm hoằng Quang đại Chí đức Thượng đẳng thần. Chuẩn hứa Quỳnh Lưu huyện, Hoàn Hậu tổng, Hoàn Lương thôn y cựu phụng sự.Thần kỳ tướng hựu bảo ngã lê dân.

Khâm tai!

Minh Mệnh ngũ niên bát nguyệt nhị thập nhất nhật.

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Dịch nghĩa:

Sắc phong cho Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Tôn thần.Thần giúp nước che dân, công đức sâu dày, đã được các triều đại ban cấp sắc phong.Kính từ Thế tổ Cao Hoàng đế ta [vua Gia Long] thống nhất giang sơn, phúc lành trải khắp thần và người.Cho nên, nay trẫm cả vâng mệnh sáng, niếp tiếp cơ đồ to lớn, xa nghĩ ơn thần, sao lại chẳng ban ân điển lớn, đáng tặng thêm là Hàm hoằng Quang đại Chí đức Thượng đẳng thần. Vẫn chuẩn cho làng Hoàn Lương, tổng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu thờ phụng thần như cũ.Thần hãy giúp đỡ, che chở và bảo vệ cho dân ta.

Kính thay!

Ngày 21 tháng 8 năm Minh Mệnh thứ 5 (1825)

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

SẮC THỨ 3:

Phiên âm:

SắcĐại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Tôn thần, nguyên tặngHàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Thượng đẳng thần, hộ quốc tý dân, nẫm trứ linh ứng, tiết mông ban cấp tặng sắc chuẩn hứa phụng sự. Tứ kim phi ưng cảnh mệnh, miến niệm thần hưu, khả gia tặng Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy Thượng đẳng thần. Nhưng chuẩn Quỳnh Lưu huyện, Phú Hậu tổng, Phú Lương thôn y cựu phụng sự.Thần kỳ tướng hựu bảo ngã lê dân.

Khâm tai!

Tự Đức tam niên thập nhất nguyệt thập ngũ nhật.

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Dịch nghĩa:

Sắc phong cho Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Tôn thần, vốn được tặng là Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Thượng đẳng thần.Thần giúp nước che dân, linh ứng từ lâu, đã nhiều lần được ban cấp sắc phong chuẩn cho thờ tự. Cho nên, nay trẫm cả vâng mệnh sáng, xa nghĩ ơn thần, đáng tặng thêm là Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy Thượng đẳng thần. Vẫn chuẩn cho làng Phú Lương, tổng Phú Hậu, huyện Quỳnh Lưu thờ phụng thần như cũ.Thần hãy giúp đỡ, che chở và bảo vệ cho dân ta.

Kính thay!

Ngày 15 tháng 11 năm Tự Đức thứ 3 (1850)

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

SẮC THỨ 4:

Phiên âm:

Sắc chỉ Nghệ An tỉnh, Quỳnh Lưu huyện, Phú Lương thôn tòng tiền phụng sự Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy  Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thượng đẳng thần. Tiết kinh ban cấp sắc phong, chuẩn kỳ phụng sự. Tự Đức tam thập nhất niên, chính trị trẫm ngũ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, đặc chuẩn y cựu phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển.

Khâm tai!

Tự Đức tam thập tam niên thập nhất nguyệt nhị thập tứ nhật.

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Dịch nghĩa:

Sắc chỉ cho làng Phú Lương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo như trước thờ phụng Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy  Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thượng đẳng thần. Thần đã nhiều lần được ban cấp sắc phong chuẩn cho thờ phụng. Năm Tự Đức thứ 31 [1878], đúng dịp đại lễ 50 tuổi của trẫm, đã ban chiếu báu, tỏ rõ ân sâu, lễ lớn tăng thêm phẩm trật, đặc chuẩn cho thờ phụng như cũ, để ghi nhớ ngày mừng của đất nước mà rõ điển thờ.

Kính thay!

Ngày 24 tháng 11 năm Tự Đức thứ 33 (1880)

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

SẮC THỨ 5:

Phiên âm:

Sắc Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy  Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thượng đẳng thần, hướng lai hộ quốc tý dân, nẫm trứ linh ứng, tiết mông ban cấp tặng sắc lưu tự. Tứ kimphi ưng cảnh mệnh, miến niệm thần hưu, khả gia tặng Dực bảo Trung hưng Thượng đẳng thần. Nhưng chuẩn hứa Nghệ An tỉnh, Quỳnh Lưu huyện, Phú Lương thôn y cựu phụng sự.Thần kỳ tướng hựu bảo ngã lê dân.

Khâm tai!

Đồng Khánh nhị niên thất nguyệt sơ nhất nhật.

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Dịch nghĩa:

Sắc phong Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy  Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thượng đẳng thần. Trước nay, thần giúp nước che dân, linh ứng từ lâu, đã nhiều lần được ban cấp sắc phong cho thờ tự.Cho nên, nay trẫm cả vâng mệnh sáng, xa nghĩ ơn thần, đáng tặng thêm là Dực bảo Trung hưng Thượng đẳng thần. Vẫn chuẩn cho làng Phú Lương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh NghệAnthờ phụng thần như cũ.Thần hãy giúp đỡ, che chở và bảo vệ cho dân ta.

Kính thay!

Ngày 01 tháng 7 năm Đồng Khánh thứ 2 (1886)

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

SẮC THỨ 6:

Phiên âm:

Sắc chỉ Nghệ An tỉnh, Quỳnh Lưu huyện, Phú Lương thôn tòng tiền phụng sự Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Trang huy …………. [4] Dực bảo Trung hưng Đại Càn Quốc Gia Nam Hải …………………….. tiết kinh ban cấp sắc phong chuẩn kỳ phụng sự. Duy Tân nguyên niên, tấn quang đại lễ, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, đặc chuẩn y cựu phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển.

Khâm tai!

Duy Tân tam niên bát nguyệt thập nhất nhật.

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Dịch nghĩa:

Sắc chỉ cho làng Phú Lương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo như trước thờ phụng thần Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Trang huy …………. Dực bảo Trung hưng Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương ….. thần đã nhiều lần được ban cấp sắc phong chuẩn cho thờ phụng. Năm Duy Tân thứ nhất [1907], đại lễ đăng quang, đã ban chiếu báu, tỏ rõ ân sâu, lễ lớn tăng thêm phẩm trật, đặc chuẩn cho thờ phụng như cũ, để ghi nhớ ngày mừng của đất nước mà rõ điển thờ.

Kính thay!

Ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3 (1909)

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

SẮC THỨ 7:

Phiên âm:

Sắc chỉ Nghệ An tỉnh, Quỳnh Lưu huyện, Phú Lương thôn tòng tiền phụng sự Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy Dực bảo Trung hưng Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thượng đẳng thần. Hộ quốc tý dân, nẫm trứ linh ứng, tiết mông ban cấp sắc phong chuẩn hứa phụng sự. Tứ kimchính trị trẫm tứ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo chiếu đàm ân, lễ long đăng trật, đặc chuẩn y cựu phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển.

Khâm tai!

Khải Địnhcửu niên thất nguyệt nhị thập ngũ nhật.

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

Dịch nghĩa:

Sắc chỉ cho làng Phú Lương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo như trước thờ phụng Hàm hoằng Quang đại Chí đức Phổ bác Hiển hóa Trang huy Dực bảo Trung hưng Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thượng đẳng thần. Thần giúp nước che dân, linh ứng rõ rệt, đã nhiều lần được ban cấp sắc phong chuẩn cho thờ phụng.Cho nên, nay đúng dịp đại lễ mừng 40 tuổi của trẫm, đã ban chiếu báu, tỏ rõ ân sâu, lễ lớn tăng thêm phẩm trật, đặc chuẩn cho thờ phụng như cũ, để ghi nhớ ngày mừng của đất nước mà rõ điển thờ.

Kính thay!

Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924)

(Ấn: Sắc mệnh chi bảo)

1.2 Hệ thống sắc sao

Sắc thứ 1: Ngày 5/4 năm Mậu Ngọ, niên hiệu Cảnh Thống thứ nhất (1498), gia phong là thần chiêu linh ứng.

Sắc thứ 2:  Ngày 8/11 năm Giáp Tý, niên hiệu Thái Trinh thứ nhất (1504), gia phong Huệ cảm Hoàng tế.

Sắc thứ 3: Ngày 27/4 năm Ất Sửu, niên hiệu Đoan Khánh thứ nhất (1505), gia phong Minh nghĩa Hiển đức.

Sắc thứ 4: Ngày 7/9 năm Canh Ngọ, niên hiệu Hồng Thuận thứ hai (1510), gia phong Trang tĩnh Phổ đạt.

Sắc thứ 5: Ngày 28/5 năm Đinh Sửu, niên hiệu Quang Thiệu thứ hai (1517), gia phong Quảng đức Hi tải.

Sắc thứ 6: Ngày 16/3 năm Qúy Mùi, niên hiệu Thống Nguyên thứ hai (1523), gia phong Mục huy Trinh thuận.

Sắc thứ 7: Ngày 10/12 năm Bính Ngọ, niên hiệu Nguyên Hòa thứ 14 (1546), gia phong Đoan thục Trang Ý Nhu gia.

Sắc thứ 8: Ngày 20/6 năm Giáp Dần, niên hiệu Thuận Bình thứ 6 (1554), gia phong Quang túc Bác đức Thuần nhân.

Sắc thứ 9: Ngày 13/2 năm Nhân Tuất, niên hiệu Chính Trị thứ 5 (1562), gia phong An bảo Thuần mẫn Cương đoán.

Sắc thứ 10: Ngày 15/11 năm Đinh Sửu, niên hiệu Gia Thái Thứ 5 (1577), gia phong Cẩn tiết Trinh phục Từ hòa.

Sắc thứ 11: Ngày 16/4 năm Quý Tỵ, niên hiệu Quang Hưng thứ 16 (1593), gia phong Phương dung Mỹ đôn.

Sắc thứ 12: Ngày 22/11 năm Canh Tý, niên hiệu Hoằng Định thứ nhất (1601), gia phong an Dân phù Tộ hữu quốc.

Sắc thứ 13: Ngày 03/2 năm Canh Thân, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 2 (1620), gia phong Trợ uy Tán trị Kế an.

Sắc thứ 14: Ngày 11/4 năm Canh Dần, niên hiệu Khánh Đức thứ 2 (1650), gia phong Trợ Thắng

Sắc thứ 15: Ngày 16/02 năm Giáp Thân, niên hiệu Phúc Thái thứ 2 (1644), gia phong Hộ quốc Khang dân Trợ thắng.

Sắc thứ 16: Ngày 9/6 năm Quý Mão, niên hiệu Cảnh Trị thứ nhất (1663), gia phong Anh linh Dực vận Phù quốc.

Sắc thứ 17: Ngày 29/7 năm Giáp Dần, niên hiệu Dương Đức thứ 3 (1674), gia phong Thận hành Thuần mỹ Trinh khiết.

Sắc thứ 19: Ngày 12/2 năm Vĩnh Trị thứ nhất (1676), gia phong Minh thông Duệ trí Hoành bác.

Sắc phong thứ 20: Ngày 25/10 năm Vĩnh Thịnh thứ nhất (1705), gia phong Hậu khánh Hiển hựu Tuy phúc.

Sắc phong thứ 21: Ngày 28/4 năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730, gia phong Thùy hưu Diên mỹ Hồng hy.

Sắc phong thứ 22: Ngày 7/10 năm Long Đức thứ nhất (1732), gia phong Trí đức Hằng trinh Trang mỹ

Sắc phong thứ 23: Ngày 22/11 năm Vĩnh Hựu thứ nhất (1735), gia phong Trinh bà Ý phạm Thuần đức.

Sắc phong thứ 24: Ngày 03/11 năm Cảnh Hưng thứ nhất (1740), gia phong Tuệ giám Sảng hinh Hạo khuống.

Sắc phong thứ 25: Ngày 03/11 năm Cảnh Hưng thứ 6 (1745), gia phong Mậu công Dũng trí Hiển ứng.

Trải qua hàng trăm năm với biết bao thăng trầm nhưng hiện nay Đn Quy Lĩnh vẫn luôn là địa chỉ tâm linh tiêu biểu trong vùng, thu hút ngày càng đông đảo nhân dân và du khách thập phương về chiêm bái. Đặc biệt,  tại đền còn lưu giữ được những sắc phong cổ quý hiếm, khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa của đền Quy Lĩnh. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích nói chung và của các đạo sắc phong là vô cùng quan trọng, cần được sự quan tâm của chính quyền địa phương và toàn thể nhân dân.

Thúy Liên


[1] Chu Xuân Giao (2009), Đền Cờn, tục thờ Tứ vị Thánh nương và quần thể di tích văn hóa ở xã Quỳnh Phương.

[2] Theo thống kê của tác gải Ninh Viết Giao trong sách tục thờ thần và thần tích Nghệ An, Nxb Nghệ An, trang 88-89:

[3] Bản thần tích Đại Càn quốc gia Nam Hải sự tích, tlđd.

[4] ……………. Là những chỗ bị rách mất chữ.



    DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ

    DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ

    THƯ VIỆN HÌNH ẢNH

    SỐ LƯỢT TRUY CẬP

     

    BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH

    VIDEO TUYÊN TRUYỀN