Cờ bay thuyền rước, lòng thành nguyện dâng
Phù cho con cháu vững lòng
Vươn khơi bám biển giữ miền đảo xa.
Nằm ở vị trí giao thoa giữa đại dương và đất liền, Đền Mai Bảng hiện diện như một biểu tượng văn hóa – tâm linh tiêu biểu của cư dân vùng biển Cửa Lò, gắn bó mật thiết với lịch sử hình thành và phát triển của làng chài cổ Mai Bảng. Trải qua nhiều thế kỷ, ngôi đền không chỉ là không gian thờ tự linh thiêng mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng, nơi gửi gắm niềm tin của ngư dân vùng biển từ nhiều thế kỷ qua.

Theo gia phả họ Trần Đức, họ Nguyễn làng Mai Bảng cho biết: Sáu dòng họ (Trần Đức, họ Nguyễn, họ Lê, Hoàng Đức, Phạm, họ Võ) di cư từ vùng đất Cửa Sót (Hà Tĩnh) vượt biển trên những chiếc thuyền nan đến vùng đất này vào những năm đầu thế kỷ 18. Họ dừng chân tại vùng Cồn Mui, Cửa Lạch Lò để sinh sống và lập nên làng Mai Bảng. Đến năm Bính Ngọ (1786) nhân dân lập đển thờ, trở về đền Cửa Sót và đền Bích Hải rước chân hương Chiêu Trưng Vương Lê Khôi, Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu về thờ phụng, sau đó phối thờ thêm Thủy Tinh Phu nhân, Tả Mậu Lâm Lang, Hữu Quế Lâm Lang cùng sáu vị thủy tổ (lục tổ )([1]) của các dòng họ có công lập làng.
Từ khi xây dựng đến nay, Đền Mai Bảng trải qua nhiều lần tu bổ tôn tạo, hiện nay di tích có tổng diện tích hơn 2.000 m2 với các hạng mục công trình như: Tam quan, hạ điện, trung điện và thượng điện cùng các công trình phụ trợ khác.
Tam quan được thiết kế theo phong cách kiến trúc thuyền thống, với 3 lối ra vào, theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái. Cửa lớn chính giữa gọi là đường thần đạo tức là cửa dành cho các vị thần linh ra vào. Chỉ vào những dịp lễ trọng của đền mới được mở ra. Hai cửa hai bên được thiết kế nhỏ và thấp hơn với mục đích khi người dân bước qua cánh cửa vào đền phải cúi thấp người xuống thể hiện sự kính trọng và ngưỡng vọng đối với các vị thần tại đây.

Qua Cổng tam quan, chúng ta vào tham quan nhà hạ điện. Nhà hạ điện gồm ba gian, hai hồi, đây là nơi bài trí cung thờ công đồng và sáu vị tổ của sáu dòng họ có công khai cơ lập nên làng Mai Bảng. Tại đây, bài trí những hiện vật cổ có thời gian tồn tại hơn trăm năm tuổi như bức cuốn thư được làm bằng gỗ quý, sơn son thiếp vàng, được khắc chữ Hán với nội dung ca ngợi sự linh thiêng nổi tiếng của đền trong đó có câu “…ngọc sáng mãi chẳng mờ, nên danh đệ nhất”, nghĩa là ngôi đền đứng đầu trong vùng về sự linh thiêng, hay như nội dung câu đối gỗ cổ ở gian giữa cũng nhằm ca ngợi công lao hiển hách lúc sinh thời của các vị thần được thờ tại đây.
“Đại đức yên dân thiên cổ thịnh
Công lao hộ quốc vạn niên dân”
Tam dịch:
Đức lớn yên dân ngàn năm thịnh
Công lao giúp nước vạn năm yên
Đặc biệt, ở đây chúng ta còn thấy bài trí đôi hạc bằng gỗ cổ lớn, có chiều cao 2,5m, được chạm trổ công phu, sơn chuốt cẩn thận đã nhuộm màu thời gian. Đôi hạc đứng trên lưng rùa thường được trang trí 2 bên ban thờ cung giữa. Mô típ hạch đứng trên lưng rùa biểu hiện sự hài hòa giữa trời đất, giữa hai thái cực âm – dương. Hạc là một loài chim quý, hình ảnh hạc thường xuất hiện bên các vị thần tiên, hạc cũng là loài vật tượng trưng cho trường thọ, biểu thị cho khát vọng trường tồn, biểu tượng của may mắn. Rùa là loài vật sống ở dưới đất, trong văn hóa Việt Nam, rùa là một linh vật được tôn trọng từ ngàn xưa, nó không đơn thuần là biểu tượng của tuổi thọ, mà còn của sự bảo vệ, che chở, hỗ trợ, sự sang trọng và triển vọng. Chính vì vậy, đây cũng là ước mong của người xưa gửi gắm vào các đồ tế khí tại di tích cầu mong cho âm dương hài hòa, trời yên, biển lặng, thuận buồm xuôi gió.

Nhà trung điện với ba gian, được thiết kế theo kiểu truyền thống, đây là nơi thờ Chư Phật. Sau khi ngôi chùa trong làng bị phá dỡ, nhân dân đã rước các tượng Phật và đồ tế khí về hợp tự tại đền. Tại đây có bộ tượng Tam thế, tòa cửu long và Thích Ca sơ sinh, Đức Ông…tất cả được làm bằng gỗ, cổ rất có giá trị. Cùng với hệ thống tượng cổ còn có nhiều cổ vật bằng đồng với kích thước rất lớn, rất hiếm gặp trên địa bàn Nghệ An như: Mâm bồng bằng đồng có kích thước cao: 0,50m, đường kính: 0,55m, bộ đài trản, hư hương đồng rất đẹp…

Nhà thượng điện gồm 3 gian, hai chái, đây là nơi thờ các vị thần chính của đền gồm: Thành hoàng làng Chiêu Trưng vương Lê Khôi, Chế thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, Thủy tinh Phu nhân.
- Ban thờ chính giữa bài trí Thành hoàng làng Chiêu Trưng vương Lê Khôi.

Chiêu Trưng vương Lê Khôi có tên thụy là Võ Mục người làng Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, là cháu ruột của vua Lê Lợi. Ngay từ buổi đầu khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Khôi đã gia nhập nghĩa quân, xông pha trận mạc, lập nhiều chiến công quan trọng, góp phần đánh bại quân Minh xâm lược, giành lại nền độc lập cho Đại Việt. Theo sách “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam” ghi chép: “Lê Khôi có tính độ lượng, thuần nhã, ít nói, ông nhiệt thành theo giúp Lê Lợi, dày công dẹp giặc cứu nước”([2])
Sau khi đất nước thái bình, Lê Khôi tiếp tục được triều đình trọng dụng. Ông được phong chức Kỳ Lân hộ vệ Thượng tướng quân, đây là chức võ quan cao cấp trong quân đội triều Lê sơ, thường được giao cho những võ tướng có tài thao lược. Năm 1430 ông được giao Trấn thủ Hóa châu, đây là vùng đất biên viễn phía Nam của Đại Việt, nơi tiếp giáp trực tiếp với Chiêm Thành, có vị trí chiến lược đặc biệt về quân sự và phòng thủ. Năm 1431, ông được giao chỉ huy quân đi dẹp loạn ở Thái Nguyên. Sau khi Lê Lợi qua đời, dưới triều vua Lê Thái Tông, ông từng nhiều lần hộ giá nhà vua thân chinh đánh giặc Ai Lao, dẹp loạn ở Châu Thuận Mỗi, lập nhiều chiến công hiển hách. Với những đóng góp đó, ông được phong chức Nhập nội Đô đốc, đây là chức võ quan cao cấp chỉ dành cho những công thần, danh tướng có nhiều công lao, đồng thời được tham dự trực tiếp vào triều chính, trở thành trụ cột quan trọng của triều Lê sơ. Năm 1443, Lê Khôi được cử làm Trấn thủ Nghệ An. Trên cương vị này, ông không chỉ thể hiện tài năng quân sự xuất sắc mà còn nổi bật bởi đức độ khoan hòa, gần gũi với nhân dân, chăm lo đời sống dân sinh, giữ yên bờ cõi. Chính vì vậy, ông được quân sĩ và nhân dân hết mực kính trọng, tin yêu. Sách “Từ điển nhân vật xứ Nghệ” có đoạn chép: “Thấy ông đến, sĩ thứ đứng hai bên đường chào đón niềm nở, nói với nhau: Dân ta chờ đón đã lâu, phúc lành nay đã đến. Vài năm sau chính sử Nghệ An tốt hẳn, nhân dân làm ăn yên ổn. Tiếng khen lan khắp đó đây”([3])
Năm 1446, phụng mệnh vua Lê Nhân Tông, Lê Khôi cùng các tướng Lê Thụ, Lê Khả chỉ huy đại quân tiến đánh Chiêm Thành, hạ được thành Đồ Bàn, lập công lớn. Trên đường thắng trận trở về, khi đến vùng cửa biển Nam Giới (Cửa Sót), dưới chân núi Long Ngâm, nay thuộc xã Thạch Khê, tỉnh Hà Tĩnh, ông lâm bệnh nặng rồi qua đời, thi hài ông được an táng tại cửa biển Nam Giới (Cửa Sót). Thương tiếc vị danh tướng tài đức vẹn toàn, triều đình cho để quốc tang ba ngày và truy phong cho Lê Khôi chức Nhập nội Kiểm hiệu Tư không, Bình chương quân quốc, ban thụy hiệu Vũ Mục.
Năm Quang Thuận thứ 4 (1463), vua Lê Thánh Tông sai Nguyễn Như Đổ soạn văn bia ghi công đức, đồng thời gia phong tước vương, từ đó nhân dân suy tôn ông là Chiêu Trưng vương Lê Khôi. Ca ngợi công lao và nhân cách của ông, vua Lê Thánh Tông đã đề tặng bài thơ nổi tiếng, thể hiện niềm tiếc thương sâu sắc đối với bậc danh tướng lương tướng, trụ cột của triều đình.
Dẹp yên tám cõi mới buông tay,
Lồ lộ Thai tinh([4]) một đóa mây
Tể tướng bếp tàn mai([5]) lạnh vạc
Tướng quân doanh([6]) vắng liễu chau mày
Phong lưu phú quý ba đời thấy,
Sự nghiệp công danh bốn bể hay
Thương ít tiếc nhiều khôn xiết chế([7])
Miếu đường([8]) hầu lấy cột nào thay
Tưởng nhớ và tri ân công lao to lớn của vị danh tướng triều Lê, nhân dân địa phương đã lập Đền Chiêu Trưng để thờ phụng, hình thành một trung tâm sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng quan trọng của cư dân vùng ven biển. Trong đời sống tâm linh của cư dân vùng Mai Bảng nói riêng và khu vực ven biển Nghệ An – Hà Tĩnh nói chung, Lê Khôi được tôn thờ như một vị hải thần linh thiêng, có công trấn giữ cửa biển, che chở và bảo vệ ngư dân mỗi khi ra khơi, vào lộng. Hình tượng Chiêu Trưng vương vừa mang dáng dấp của nhân vật lịch sử có công với dân với nước, vừa được linh thiêng hóa thành vị hải thần trong tín ngưỡng dân gian.
Đền Mai Bảng là một trong nhiều ngôi đền được nhân dân lập nên để thờ Chiêu Trưng vương Lê Khôi, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc và sự tôn kính đối với vị danh tướng triều Lê sơ. Việc thờ phụng Lê Khôi tại Đền Mai Bảng không chỉ mang ý nghĩa tâm linh, cầu mong mưa thuận gió hòa, biển yên sóng lặng, mà còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Việc thờ phụng này đã được nhà nước phong kiến chính thức công nhận thông qua 06 đạo sắc phong hiện còn lưu giữ tại đền. Tiêu biểu là sắc phong niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 6 (1846), ghi rõ: “Sắc cho Bỉnh trung phù chính, tả nội nhập mật, nội tham dự triều chính, Bỉnh chương quân quốc, tri bình dân trọng sự, Tư không, Võ Mục, Chiêu Trưng trung đẳng thần. Chuẩn cho Trang Mai Phụ, huyện Chân Lộc phụng thờ như cũ.”. Những sắc phong này là bằng chứng lịch sử và pháp lý quan trọng, khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh của việc thờ Chiêu Trưng vương Lê Khôi tại Đền Mai Bảng, đồng thời làm nổi bật vai trò và tầm vóc của ông trong tiến trình lịch sử dân tộc thế kỷ XV.
Cung thờ Lê Khôi được bài trí nhiều hiện vật rất có giá trị như hương án có kích thước rất lớn, lại được trang trí cầu kỳ với các đề tài “Long, ly, quy, phương”, “Tùng, cúc, trúc, mai”, mét chạm khỏe khoắn, sắc nét tạo nên những hình ảnh vừa chân thực vừa lung linh huyền ảo. Như ta đã biết, trong tâm thức của người Việt hương án được xem là biểu tượng của thế giới bên trên, của cõi thần linh, trong một chừng mực nào đó bàn thờ được đồng nhất với tầng trời. Một biểu hiện rõ nhất của tầng trời trên bàn thờ là hương và nến. Thông thường hai cây nến đặt ở hai góc phía ngoài để tượng trưng cho 2 vầng nhật nguyệt, còn bát hương với những thẻ hương đang cháy là tượng trưng cho các vì tinh tú, khói hương là vật thông linh để tiếp cận với thần linh. Chính vì vậy, các nghệ nhân xưa đã bỏ ra rất nhiều tiền của, công sức để có được những đồ thờ tốt nhất dâng cúng cho đền. Trên hương án bài trí long ngai bài vị cổ của thần Lê Khôi, như ta đã biết bài vị cũng là một loại đồ thờ nhân cách, được mô phỏng theo hình nhân, với khuôn mặt tròn, có mắt, mũi, tai, trên đầu còn đội mũ quan, tượng trưng cho hình ảnh của ngài. So với các long ngai bài vị khác thì bộ long ngai này có kích thước khá lớn nó thể hiện vai trò, vị trí của vị thần này trong lòng nhân dân thật sự như núi “Thái Sơn”. Trong long ngai còn có hiệu bụt bằng chữ Hán với nội dung: “Bỉnh trung phù chính tả nội mật nhập nội tham dự triều chính bình chương quân quốc tri binh dân trọng sự tư không Võ Mục Chiêu Trưng thượng đẳng thần. Hiện nay, tại đây còn bài trí thêm tượng Lê Khôi được đúc bằng đồng.
- Cung bên phải bài trí thờ thần Chế thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu

Nguyễn Thị Bích Châu, quê ở xã Bảo Lộc, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (nay là xã Hải Hưng, tỉnh Ninh Bình). Bà là con gái đại thần Nguyễn Tướng Công, được dạy dỗ văn võ kiêm toàn. Sau đó bà dự tuyển phi tần và được nhập cung phong là Tả cung Quý Phi làm phi tần của vua Trần Duệ Tông (1373–1377), vị vua thứ chín của triều Trần. Bà được biết đến không chỉ là người có nhan sắc diễm lệ mà còn có trí tuệ xuất chúng và lòng yêu nước sâu sắc. Theo truyền thuyết, bà nổi tiếng là người có học thức uyên thâm, sau khi nhập cung thấy triều đình ngày càng sa sút, chính sự đổ nát, nhân tài không được trọng dụng, bà đã thảo “Kê minh thập sách” tập hợp những đề xuất cải cách kinh tế, chính trị và văn hóa nhằm củng cố triều đình và cải thiện đời sống nhân dân được nhà vua khen ngợi.
Khi nhà vua cất quân đi đánh Chiêm Thành, bà ngăn cản không được bèn xin đi theo ngự giá thân chinh, vì khinh địch nên bị vua Chiêm tấn công bất ngờ vào nửa đêm và bại trận. Bà Bích Châu trúng tên độc bị thương nặng. Vua quân nhà Trần rút về cửa biển Hải Khẩu an toàn nhưng vì vết thương quá nặng nên bà đã mất vào ngày 12/2/1377. Thời điểm đó biển động, sóng to, gió lớn không thể chở linh cữu của bà ra Bắc nên nhà vua lệnh cho an táng bà tại Hải Khẩu và cho lập đền thờ gọi là đền Bà Hải tại chân núi Mũi Dòn (nay thuộc phường Hải Ninh, tỉnh Hà Tĩnh). Về sau bà thường hiển linh giúp đỡ cư dân vùng biển nên nhân dân vùng biển Nghệ An, Hà Tĩnh xem bà là vị hải thần. Vị hiệu của thần Chế thắng phu nhân tại đây là: “Bảo thuận Trinh thọ Anh linh Dực bảo Trung hưng gia tặng Hiệp thuận Lương tĩnh Nhàn uyển tôn thần”
Hiện nay, tại đền còn lưu giữ 5 sắc phong thần cho Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, trong đó sắc phong niên hiệu Tự Đức năm thứ 3 (1850) có nội dung: “Xứng đáng phong là Lương Tĩnh thục diệu trai khiết trung đẳng thần. Chuẩn cho trang Mai Phụ, huyện Chân Lộc phụng thờ như cũ”. Vị hiệu của Nguyễn Thị Bích Châu trong bài văn cúng của Đền Mai Bảng: “Đức Bà Chế Thắng Phu nhân Bảo thuận, Trực ý, Linh hiển, Quang hữu, Mỹ đôn, Đoạn trang lịch triều gia tặng Hiệp thuận Lương tĩnh Thục diệu Trai thục Dực bảo Trung hưng Trang huy Thượng đảng thần”
- Cung bên trái bài trí thờ thủy tinh phu nhân.
Thần tích về Thủy Tinh Phu nhân được lưu truyền với rất nhiều dị bản, có nơi cho rằng thần là vợ vua Thủy Tề; có nơi nói thần là một trong ba người con gái Lạc Long Quân; lại có thuyết nói thần là con Trời… Nhưng theo nội dung bài văn cúng Mẫu Thủy cho biết: Kiếp trước thần là một trong mười hai tiên nữ của Ngọc Hoàng thượng đế sinh tại thiên cung, về sau nàng bị khiển trách nên đày xuống thủy cung làm con gái của Vua Bát Hải Thủy Quốc Động Đình. Trong đời sống tâm linh của cư dân vùng sông nước thần Thủy tinh phu nhân rất linh ứng, khi ngư dân gặp bất trắc trên sông, trên biển cầu đến ngài đều thấy linh nghiệm.
Theo bài văn cúng tại Đền Mai Bảng cho biết vị hiệu của thần như sau: “Đức Bà Chúa Út phu nhân Trịnh thục, Nhã hạnh, Dung nghi, Chính trực, Nữ trung, Diễm lệ, Cảm ứng Diệu cơ Trang tĩnh, Thủy tinh Phu nhân Lãng chiếu, Đoạn khiết Trừng minh, Nhàn Uyển, Dực bảo Trung hưng Trang Huy Thượng đẳng thần”. Hiện nay, tại đền còn lưu giữ 3 sắc do triều Nguyễn phong cho thần Thủy tinh phu nhân trong đó sắc phong năm Tự Đức thứ 33 (1880) có nội dung: “Nhàn uyển Thủy tinh phu nhân chi thần…Đặc chuẩn cho xã Mai Bảng, huyện Chân Lộc, tỉnh Nghệ An thờ phụng như cũ”.
Tại đền Mai Bảng hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ quý, có giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc. Các hiện vật ở đây chủ yếu làm bằng chất liệu gỗ với tài năng điêu luyện của nghệ nhân đã làm cho những bức đại tự, câu đối, long ngai, hương án, kiệu, đôi hạc gỗ… trở thành các tác phẩm nghệ thuật sống động, đầy hấp dẫn. Trong quan niệm dân gian, đồ thờ như “giấy thông hành” để tầng dưới tiếp cận với tầng trên, con người tiêp cận với đấng thần linh. Di tích Đền Mai Bảng có số lượng đồ thờ nhiều, kích thước to lớn, chất liệu tốt, trang trí cầu kỳ tinh xảo,.. thông qua các hiện vật cổ góp phần thiêng hóa kiến trúc thờ tự, hướng tâm con người đến với lẽ huyền vi của đạo, hướng đến giá trị chân, thiện, mỹ. Ngoài ra đồ thờ là những di sản vật thể, nó chứa đựng những ước vọng truyền đời của tổ tiên, thông qua nó và thần linh để cầu nguồn hạnh phúc cho nhân dân. Ở đền Mai Bảng đồ thờ mang vẻ đẹp tâm linh thánh thiện phản ánh tâm thức của cư dân vùng biển. Chúng vượt lên tính tích cực và tiêu cực của người đời để tồn tại như một chứng tích lịch sử, một lời nhắn nhủ của tổ tiên...
Về với đền Mai Bảng du khách không chỉ được thắp nén tâm hương dân lên các vị thần linh để cầu tài, cầu lộc, cầu bình an, mà chúng ta còn có thể tham quan làng chài cổ Mai Bảng, tìm hiểu một số nghề thủ công truyền thống như nghề làm nước mắm, nghề muối ruốc cũng như mua những sản phẩm địa phương về làm quà cho người thân, bạn bè.
Với những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và thẩm mỹ đặc sắc, Đền Mai Bảng đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia tại Quyết định số 2279/QĐ-BVHTTDL ngày 28/6/2016 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Tiếp nối sự ghi nhận đó, ngày 06/01/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 23/QĐ-BVHTTDL, chính thức ghi danh Lễ hội Đền Mai Bảng, phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Những danh hiệu cao quý này không chỉ khẳng định giá trị tiêu biểu của di tích và lễ hội đền Mai Bảng trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc, mà còn thể hiện sự trân trọng của Nhà nước và xã hội đối với những giá trị lịch sử và văn hóa tiêu biểu được bảo lưu qua nhiều thế hệ. Đó cũng là nền tảng quan trọng để tiếp tục bảo tồn, phát huy giá trị di tích và lễ hội một cách bền vững, góp phần giáo dục truyền thống, củng cố bản sắc văn hóa cộng đồng và lan tỏa những giá trị nhân văn sâu sắc trong đời sống đương đại.
[1] Lục tổ gồm: Trần Liệt, Phạm Công Huấn, Hoàng Đức Thực, Lê Lệ, Võ Chính Tạo, Nguyễn Văn Đò (Nhiệm)
[2] Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá Thể (2006),Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB Tổng hợp TPHCM, tr 468
[4] Thai tinh: tức là tên một chòm sao có 6 ngôi sao tạo thành. Theo quan niệm của các nhà chiêm tinh ngày trước, sao Tam thai ứng vào chức quan Tam công, tức là chỉ Lê Khôi đảm nhận chức quan to đó.
[5] Mai lấy từ chữ diêm mai và muối và mơ, hai thứ gia vị dùng khi ăn canh giấm. Theo Kinh thi khi vua Cao Tông nhà Ân dùng Phí Duyệt rất cần thiết cho quốc gia, ví như muối và mơ rất cần để điều hòa nồi canh. Mai lạnh vạc: vạc nấu canh để lạnh, không có mơ để điều hòa, chỉ việc Lê Khôi chết, nước nhà mất một rường cột.
[6] Doanh tức doanh trại, Liễu do chữ Liễu doanh. Xưa Chu Á Phù, tướng nhà Hán, thường đóng quân ở Tế Liễu, người đời sau dùng tích ấy để nói nơi đóng quân là Liễu doanh, Liễu chau mày, ý nói tướng Lê Khôi chết, nơi ông đóng quân, cây liễu cũng chau mày thương tiếc
[7] Chế là tờ chế của nhà vua, lại có nghĩa là ngăn giữ, hạn chế. Khôn xiết chế có nghĩa là không ngăn được nỗi thương tiếc.
[8] Miếu đường là chỉ triều đình; Cột là chỉ người bầy tôi giỏi, là trụ cột của quốc gia, xã tắc., có vị trí chiến lược đặc biệt về quân sự và phòng thủ. Năm 1431, ông được giao chỉ huy quân đi dẹp loạn ở Thái Nguyên. Sau khi Lê Lợi qua đời, dưới triều vua Lê Thái Tông, ông từng nhiều lần hộ giá nhà vua thân chinh đánh giặc Ai Lao, dẹp loạn ở Châu Thuận Mỗi, lập nhiều chiến công hiển hách. Với những đóng góp đó, ông được phong chức Nhập nội Đô đốc, đây là chức võ quan cao cấp chỉ dành cho những công thần, danh tướng có nhiều công lao, đồng thời được tham dự trực tiếp vào triều chính, trở thành trụ cột quan trọng của triều Lê sơ. Năm 1443, Lê Khôi được cử làm Trấn thủ Nghệ An. Trên cương vị này, ông không chỉ thể hiện tài năng quân sự xuất sắc mà còn nổi bật bởi đức độ khoan hòa, gần gũi với nhân dân, chăm lo đời sống dân sinh, giữ yên bờ cõi. Chính vì vậy, ông được quân sĩ và nhân dân hết mực kính trọng, tin yêu. Sách “Từ điển nhân vật xứ Nghệ” có đoạn chép: “Thấy ông đến, sĩ thứ đứng hai bên đường chào đón niềm nở, nói với nhau: Dân ta chờ đón đã lâu, phúc lành nay đã đến. Vài năm sau chính sử Nghệ An tốt hẳn, nhân dân làm ăn yên ổn. Tiếng khen lan khắp đó đây”([3])
Năm 1446, phụng mệnh vua Lê Nhân Tông, Lê Khôi cùng các tướng Lê Thụ, Lê Khả chỉ huy đại quân tiến đánh Chiêm Thành, hạ được thành Đồ Bàn, lập công lớn. Trên đường thắng trận trở về, khi đến vùng cửa biển Nam Giới (Cửa Sót), dưới chân núi Long Ngâm, nay thuộc xã Thạch Khê, tỉnh Hà Tĩnh, ông lâm bệnh nặng rồi qua đời, thi hài ông được an táng tại cửa biển Nam Giới (Cửa Sót). Thương tiếc vị danh tướng tài đức vẹn toàn, triều đình cho để quốc tang ba ngày và truy phong cho Lê Khôi chức Nhập nội Kiểm hiệu Tư không, Bình chương quân quốc, ban thụy hiệu Vũ Mục.
Năm Quang Thuận thứ 4 (1463), vua Lê Thánh Tông sai Nguyễn Như Đổ soạn văn bia ghi công đức, đồng thời gia phong tước vương, từ đó nhân dân suy tôn ông là Chiêu Trưng vương Lê Khôi. Ca ngợi công lao và nhân cách của ông, vua Lê Thánh Tông đã đề tặng bài thơ nổi tiếng, thể hiện niềm tiếc thương sâu sắc đối với bậc danh tướng lương tướng, trụ cột của triều đình.
Dẹp yên tám cõi mới buông tay,
Lồ lộ Thai tinh([4]) một đóa mây
Tể tướng bếp tàn mai([5]) lạnh vạc
Tướng quân doanh([6]) vắng liễu chau mày
Phong lưu phú quý ba đời thấy,
Sự nghiệp công danh bốn bể hay
Thương ít tiếc nhiều khôn xiết chế([7])
Miếu đường([8]) hầu lấy cột nào thay
Tưởng nhớ và tri ân công lao to lớn của vị danh tướng triều Lê, nhân dân địa phương đã lập Đền Chiêu Trưng để thờ phụng, hình thành một trung tâm sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng quan trọng của cư dân vùng ven biển. Trong đời sống tâm linh của cư dân vùng Mai Bảng nói riêng và khu vực ven biển Nghệ An – Hà Tĩnh nói chung, Lê Khôi được tôn thờ như một vị hải thần linh thiêng, có công trấn giữ cửa biển, che chở và bảo vệ ngư dân mỗi khi ra khơi, vào lộng. Hình tượng Chiêu Trưng vương vừa mang dáng dấp của nhân vật lịch sử có công với dân với nước, vừa được linh thiêng hóa thành vị hải thần trong tín ngưỡng dân gian.
Đền Mai Bảng là một trong nhiều ngôi đền được nhân dân lập nên để thờ Chiêu Trưng vương Lê Khôi, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc và sự tôn kính đối với vị danh tướng triều Lê sơ. Việc thờ phụng Lê Khôi tại Đền Mai Bảng không chỉ mang ý nghĩa tâm linh, cầu mong mưa thuận gió hòa, biển yên sóng lặng, mà còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước uống nước nhớ nguồn của dân tộc. Việc thờ phụng này đã được nhà nước phong kiến chính thức công nhận thông qua 06 đạo sắc phong hiện còn lưu giữ tại đền. Tiêu biểu là sắc phong niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 6 (1846), ghi rõ: “Sắc cho Bỉnh trung phù chính, tả nội nhập mật, nội tham dự triều chính, Bỉnh chương quân quốc, tri bình dân trọng sự, Tư không, Võ Mục, Chiêu Trưng trung đẳng thần. Chuẩn cho Trang Mai Phụ, huyện Chân Lộc phụng thờ như cũ.”. Những sắc phong này là bằng chứng lịch sử và pháp lý quan trọng, khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa và tâm linh của việc thờ Chiêu Trưng vương Lê Khôi tại Đền Mai Bảng, đồng thời làm nổi bật vai trò và tầm vóc của ông trong tiến trình lịch sử dân tộc thế kỷ XV.
Cung thờ Lê Khôi được bài trí nhiều hiện vật rất có giá trị như hương án có kích thước rất lớn, lại được trang trí cầu kỳ với các đề tài “Long, ly, quy, phương”, “Tùng, cúc, trúc, mai”, mét chạm khỏe khoắn, sắc nét tạo nên những hình ảnh vừa chân thực vừa lung linh huyền ảo. Như ta đã biết, trong tâm thức của người Việt hương án được xem là biểu tượng của thế giới bên trên, của cõi thần linh, trong một chừng mực nào đó bàn thờ được đồng nhất với tầng trời. Một biểu hiện rõ nhất của tầng trời trên bàn thờ là hương và nến. Thông thường hai cây nến đặt ở hai góc phía ngoài để tượng trưng cho 2 vầng nhật nguyệt, còn bát hương với những thẻ hương đang cháy là tượng trưng cho các vì tinh tú, khói hương là vật thông linh để tiếp cận với thần linh. Chính vì vậy, các nghệ nhân xưa đã bỏ ra rất nhiều tiền của, công sức để có được những đồ thờ tốt nhất dâng cúng cho đền. Trên hương án bài trí long ngai bài vị cổ của thần Lê Khôi, như ta đã biết bài vị cũng là một loại đồ thờ nhân cách, được mô phỏng theo hình nhân, với khuôn mặt tròn, có mắt, mũi, tai, trên đầu còn đội mũ quan, tượng trưng cho hình ảnh của ngài. So với các long ngai bài vị khác thì bộ long ngai này có kích thước khá lớn nó thể hiện vai trò, vị trí của vị thần này trong lòng nhân dân thật sự như núi “Thái Sơn”. Trong long ngai còn có hiệu bụt bằng chữ Hán với nội dung: “Bỉnh trung phù chính tả nội mật nhập nội tham dự triều chính bình chương quân quốc tri binh dân trọng sự tư không Võ Mục Chiêu Trưng thượng đẳng thần. Hiện nay, tại đây còn bài trí thêm tượng Lê Khôi được đúc bằng đồng.
- Cung bên phải bài trí thờ thần Chế thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích.
Nguyễn Thị Bích Châu, quê ở xã Bảo Lộc, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (nay là xã Hải Hưng, tỉnh Ninh Bình). Bà là con gái đại thần Nguyễn Tướng Công, được dạy dỗ văn võ kiêm toàn. Sau đó bà dự tuyển phi tần và được nhập cung phong là Tả cung Quý Phi làm phi tần của vua Trần Duệ Tông (1373–1377), vị vua thứ chín của triều Trần. Bà được biết đến không chỉ là người có nhan sắc diễm lệ mà còn có trí tuệ xuất chúng và lòng yêu nước sâu sắc. Theo truyền thuyết, bà nổi tiếng là người có học thức uyên thâm, sau khi nhập cung thấy triều đình ngày càng sa sút, chính sự đổ nát, nhân tài không được trọng dụng, bà đã thảo “Kê minh thập sách” tập hợp những đề xuất cải cách kinh tế, chính trị và văn hóa nhằm củng cố triều đình và cải thiện đời sống nhân dân được nhà vua khen ngợi.
Khi nhà vua cất quân đi đánh Chiêm Thành, bà ngăn cản không được bèn xin đi theo ngự giá thân chinh, vì khinh địch nên bị vua Chiêm tấn công bất ngờ vào nửa đêm và bại trận. Bà Bích Châu trúng tên độc bị thương nặng. Vua quân nhà Trần rút về cửa biển Hải Khẩu an toàn nhưng vì vết thương quá nặng nên bà đã mất vào ngày 12/2/1377. Thời điểm đó biển động, sóng to, gió lớn không thể chở linh cữu của bà ra Bắc nên nhà vua lệnh cho an táng bà tại Hải Khẩu và cho lập đền thờ gọi là đền Bà Hải tại chân núi Mũi Dòn (nay thuộc phường Hải Ninh, tỉnh Hà Tĩnh). Về sau bà thường hiển linh giúp đỡ cư dân vùng biển nên nhân dân vùng biển Nghệ An, Hà Tĩnh xem bà là vị hải thần. Vị hiệu của thần Chế thắng phu nhân tại đây là: “Bảo thuận Trinh thọ Anh linh Dực bảo Trung hưng gia tặng Hiệp thuận Lương tĩnh Nhàn uyển tôn thần”
Hiện nay, tại đền còn lưu giữ 5 sắc phong thần cho Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, trong đó sắc phong niên hiệu Tự Đức năm thứ 3 (1850) có nội dung: “Xứng đáng phong là Lương Tĩnh thục diệu trai khiết trung đẳng thần. Chuẩn cho trang Mai Phụ, huyện Chân Lộc phụng thờ như cũ”. Vị hiệu của Nguyễn Thị Bích Châu trong bài văn cúng của Đền Mai Bảng: “Đức Bà Chế Thắng Phu nhân Bảo thuận, Trực ý, Linh hiển, Quang hữu, Mỹ đôn, Đoạn trang lịch triều gia tặng Hiệp thuận Lương tĩnh Thục diệu Trai thục Dực bảo Trung hưng Trang huy Thượng đảng thần”
- Cung bên trái bài trí thờ thủy tinh phu nhân.
Thần tích về Thủy Tinh Phu nhân được lưu truyền với rất nhiều dị bản, có nơi cho rằng thần là vợ vua Thủy Tề; có nơi nói thần là một trong ba người con gái Lạc Long Quân; lại có thuyết nói thần là con Trời… Nhưng theo nội dung bài văn cúng Mẫu Thủy cho biết: Kiếp trước thần là một trong mười hai tiên nữ của Ngọc Hoàng thượng đế sinh tại thiên cung, về sau nàng bị khiển trách nên đày xuống thủy cung làm con gái của Vua Bát Hải Thủy Quốc Động Đình. Trong đời sống tâm linh của cư dân vùng sông nước thần Thủy tinh phu nhân rất linh ứng, khi ngư dân gặp bất trắc trên sông, trên biển cầu đến ngài đều thấy linh nghiệm.
Theo bài văn cúng tại Đền Mai Bảng cho biết vị hiệu của thần như sau: “Đức Bà Chúa Út phu nhân Trịnh thục, Nhã hạnh, Dung nghi, Chính trực, Nữ trung, Diễm lệ, Cảm ứng Diệu cơ Trang tĩnh, Thủy tinh Phu nhân Lãng chiếu, Đoạn khiết Trừng minh, Nhàn Uyển, Dực bảo Trung hưng Trang Huy Thượng đẳng thần”. Hiện nay, tại đền còn lưu giữ 3 sắc do triều Nguyễn phong cho thần Thủy tinh phu nhân trong đó sắc phong năm Tự Đức thứ 33 (1880) có nội dung: “Nhàn uyển Thủy tinh phu nhân chi thần…Đặc chuẩn cho xã Mai Bảng, huyện Chân Lộc, tỉnh Nghệ An thờ phụng như cũ”.
Tại đền Mai Bảng hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật cổ quý, có giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc. Các hiện vật ở đây chủ yếu làm bằng chất liệu gỗ với tài năng điêu luyện của nghệ nhân đã làm cho những bức đại tự, câu đối, long ngai, hương án, kiệu, đôi hạc gỗ… trở thành các tác phẩm nghệ thuật sống động, đầy hấp dẫn. Trong quan niệm dân gian, đồ thờ như “giấy thông hành” để tầng dưới tiếp cận với tầng trên, con người tiêp cận với đấng thần linh. Di tích Đền Mai Bảng có số lượng đồ thờ nhiều, kích thước to lớn, chất liệu tốt, trang trí cầu kỳ tinh xảo,.. thông qua các hiện vật cổ góp phần thiêng hóa kiến trúc thờ tự, hướng tâm con người đến với lẽ huyền vi của đạo, hướng đến giá trị chân, thiện, mỹ. Ngoài ra đồ thờ là những di sản vật thể, nó chứa đựng những ước vọng truyền đời của tổ tiên, thông qua nó và thần linh để cầu nguồn hạnh phúc cho nhân dân. Ở đền Mai Bảng đồ thờ mang vẻ đẹp tâm linh thánh thiện phản ánh tâm thức của cư dân vùng biển. Chúng vượt lên tính tích cực và tiêu cực của người đời để tồn tại như một chứng tích lịch sử, một lời nhắn nhủ của tổ tiên...
Về với đền Mai Bảng du khách không chỉ được thắp nén tâm hương dân lên các vị thần linh để cầu tài, cầu lộc, cầu bình an, mà chúng ta còn có thể tham quan làng chài cổ Mai Bảng, tìm hiểu một số nghề thủ công truyền thống như nghề làm nước mắm, nghề muối ruốc cũng như mua những sản phẩm địa phương về làm quà cho người thân, bạn bè.
Với những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học và thẩm mỹ đặc sắc, Đền Mai Bảng đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia tại Quyết định số 2279/QĐ-BVHTTDL ngày 28/6/2016 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Tiếp nối sự ghi nhận đó, ngày 06/01/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 23/QĐ-BVHTTDL, chính thức ghi danh Lễ hội Đền Mai Bảng, phường Cửa Lò, tỉnh Nghệ An vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Những danh hiệu cao quý này không chỉ khẳng định giá trị tiêu biểu của di tích và lễ hội đền Mai Bảng trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc, mà còn thể hiện sự trân trọng của Nhà nước và xã hội đối với những giá trị lịch sử và văn hóa tiêu biểu được bảo lưu qua nhiều thế hệ. Đó cũng là nền tảng quan trọng để tiếp tục bảo tồn, phát huy giá trị di tích và lễ hội một cách bền vững, góp phần giáo dục truyền thống, củng cố bản sắc văn hóa cộng đồng và lan tỏa những giá trị nhân văn sâu sắc trong đời sống đương đại.
[1] Lục tổ gồm: Trần Liệt, Phạm Công Huấn, Hoàng Đức Thực, Lê Lệ, Võ Chính Tạo, Nguyễn Văn Đò (Nhiệm)
[2] Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá Thể (2006),Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB Tổng hợp TPHCM, tr 468
[4] Thai tinh: tức là tên một chòm sao có 6 ngôi sao tạo thành. Theo quan niệm của các nhà chiêm tinh ngày trước, sao Tam thai ứng vào chức quan Tam công, tức là chỉ Lê Khôi đảm nhận chức quan to đó.
[5] Mai lấy từ chữ diêm mai và muối và mơ, hai thứ gia vị dùng khi ăn canh giấm. Theo Kinh thi khi vua Cao Tông nhà Ân dùng Phí Duyệt rất cần thiết cho quốc gia, ví như muối và mơ rất cần để điều hòa nồi canh. Mai lạnh vạc: vạc nấu canh để lạnh, không có mơ để điều hòa, chỉ việc Lê Khôi chết, nước nhà mất một rường cột.
[6] Doanh tức doanh trại, Liễu do chữ Liễu doanh. Xưa Chu Á Phù, tướng nhà Hán, thường đóng quân ở Tế Liễu, người đời sau dùng tích ấy để nói nơi đóng quân là Liễu doanh, Liễu chau mày, ý nói tướng Lê Khôi chết, nơi ông đóng quân, cây liễu cũng chau mày thương tiếc
[7] Chế là tờ chế của nhà vua, lại có nghĩa là ngăn giữ, hạn chế. Khôn xiết chế có nghĩa là không ngăn được nỗi thương tiếc.